Quyết toán thuế TNCN kỳ tính thuế năm 2026: Khấu trừ 10%, ủy quyền, thời hạn và những lưu ý cần biết

Đối với thu nhập từ tiền lương, tiền công, việc đã bị khấu trừ thuế trong năm không đồng nghĩa nghĩa vụ thuế đã kết thúc. Cá nhân cần xác định mình thuộc trường hợp phải quyết toán, được ủy quyền quyết toán hay không phải quyết toán theo quy định.
Bài viết cập nhật pháp luật đến ngày 16/10/2026, tập trung vào cá nhân cư trú có thu nhập từ tiền lương, tiền công.
1. Khấu trừ thuế và quyết toán thuế là hai việc khác nhau
Khấu trừ thuế là việc tổ chức, cá nhân trả thu nhập giữ lại một phần tiền thuế trước khi trả thu nhập cho cá nhân và thực hiện nộp vào ngân sách nhà nước.
Quyết toán thuế là bước xác định lại nghĩa vụ thuế của cả kỳ tính thuế trên cơ sở tổng thu nhập, các khoản giảm trừ, số thuế phải nộp và số thuế đã được khấu trừ hoặc đã nộp trong năm.
Vì vậy, một cá nhân đã bị khấu trừ thuế trong từng lần nhận thu nhập vẫn có thể phát sinh:
- số thuế còn phải nộp thêm;
- số thuế đã nộp thừa;
- quyền đề nghị hoàn thuế hoặc bù trừ;
- hoặc thuộc trường hợp không phải quyết toán theo quy định.
Điều 51 Nghị định 253/2026/NĐ-CP quy định tổ chức, cá nhân trả thu nhập và cá nhân cư trú có thu nhập từ tiền lương, tiền công thực hiện quyết toán thuế theo năm, trừ các trường hợp được pháp luật loại trừ.
2. Những điểm cần lưu ý trong cơ chế khấu trừ, quyết toán từ năm 2026
Một số nội dung đáng chú ý khi thực hiện nghĩa vụ thuế TNCN theo hệ thống pháp luật áp dụng từ năm 2026 gồm:
| Nội dung | Quy định cần lưu ý |
| Người không ký HĐLĐ hoặc ký HĐLĐ dưới 03 tháng | Khấu trừ 10% nếu mức chi trả từ 05 triệu đồng/lần trở lên, trừ trường hợp đủ điều kiện tạm thời chưa khấu trừ theo quy định. |
| Thu nhập bổ sung tại nơi khác | Có thể không phải quyết toán phần thu nhập này nếu bình quân tháng trong năm không quá 15 triệu đồng và đã bị khấu trừ 10% theo quy định |
| Ủy quyền quyết toán | Được thực hiện khi đáp ứng điều kiện tại Điều 51 Nghị định 253/2026/NĐ-CP |
| Cá nhân trực tiếp quyết toán | Thời hạn chậm nhất là ngày cuối cùng của tháng thứ 04 kể từ ngày kết thúc năm dương lịch |
| Hồ sơ, dữ liệu thuế | Tăng sử dụng dữ liệu điện tử; một số thông tin, chứng từ đã có trên hệ thống không phải cung cấp lại |
Các nội dung trên cần được xem xét trong mối liên hệ với từng trường hợp cụ thể, không nên tách riêng một con số để kết luận nghĩa vụ thuế.
3. Khấu trừ thuế đối với cá nhân cư trú ký hợp đồng lao động từ 03 tháng trở lên
Theo Điều 50 Nghị định 253/2026/NĐ-CP, đối với trường hợp không thuộc cơ chế khấu trừ theo tỷ lệ cố định quy định riêng, tổ chức, cá nhân trả thu nhập thực hiện khấu trừ căn cứ vào thu nhập tính thuế tháng và biểu thuế lũy tiến từng phần.
Đối với người lao động thuộc diện áp dụng biểu thuế lũy tiến, số thuế bị khấu trừ trong từng kỳ trả thu nhập là số thuế tạm xác định tại thời điểm chi trả.
Khi kết thúc kỳ tính thuế, nghĩa vụ thuế cuối cùng còn phải được đối chiếu với tổng thu nhập, các khoản giảm trừ và số thuế đã khấu trừ trong cả năm.
Do đó, khấu trừ hàng tháng không thay thế cho việc quyết toán trong trường hợp cá nhân thuộc diện phải quyết toán.

4. Khấu trừ 10% đối với người không ký hợp đồng hoặc hợp đồng dưới 03 tháng
Khoản 2 Điều 50 Nghị định 253/2026/NĐ-CP quy định: tổ chức, cá nhân trả tiền lương, tiền công, tiền thù lao hoặc khoản chi khác cho cá nhân cư trú không ký hợp đồng lao động hoặc ký hợp đồng lao động dưới 03 tháng, nếu mức chi trả từ 05 triệu đồng/lần trở lên, phải khấu trừ thuế theo tỷ lệ 10% trên thu nhập trước khi trả.
Quy định này bao gồm cả trường hợp trả tiền lương hoặc khoản thu nhập khác cho người lao động sau khi hợp đồng lao động đã chấm dứt, nếu thuộc phạm vi điều chỉnh của quy định.
Trường hợp mức chi trả dưới 05 triệu đồng/lần, tổ chức, cá nhân trả thu nhập có thể thực hiện khấu trừ 10% nếu cá nhân có yêu cầu.
05 triệu đồng/lần có phải là “ngưỡng không phải nộp thuế”?
Không. Mốc 05 triệu đồng/lần là căn cứ để xác định cơ chế khấu trừ tại nguồn đối với nhóm thu nhập nêu trên.
Số thuế TNCN thực tế của cá nhân còn phụ thuộc vào tổng thu nhập trong năm, các khoản giảm trừ và việc quyết toán thuế.
Vì vậy, khấu trừ 10% không đồng nghĩa số thuế cuối cùng của cá nhân chắc chắn bằng 10% số tiền đã nhận.
Trường hợp tạm thời chưa khấu trừ 10%
Theo khoản 2 Điều 50 Nghị định 253/2026/NĐ-CP, trường hợp cá nhân chỉ có thu nhập thuộc đối tượng phải khấu trừ 10% nhưng ước tính tổng mức thu nhập chịu thuế sau khi giảm trừ gia cảnh chưa đến mức phải nộp thuế thì cá nhân có thể lập cam kết theo mẫu quy định về quản lý thuế gửi tổ chức trả thu nhập để làm căn cứ tạm thời chưa khấu trừ thuế.
Cá nhân lập cam kết phải chịu trách nhiệm về nội dung cam kết. Kết thúc năm tính thuế, tổ chức trả thu nhập vẫn thực hiện tổng hợp thông tin đối với các cá nhân thuộc trường hợp này theo quy định.
5. Trường hợp nào không phải quyết toán thuế?
Khoản 1 Điều 51 Nghị định 253/2026/NĐ-CP quy định một số trường hợp cá nhân không phải thực hiện quyết toán thuế.
Trường hợp đã nộp thừa nhưng không yêu cầu xử lý
Cá nhân có số thuế phải nộp nhỏ hơn số thuế đã nộp trong kỳ tính thuế, nhưng không có yêu cầu hoàn thuế hoặc bù trừ số thuế nộp thừa vào kỳ sau, thuộc trường hợp không phải quyết toán theo quy định.
Nếu cá nhân muốn thực hiện quyền hoàn thuế hoặc xử lý số tiền nộp thừa thì cần thực hiện thủ tục theo quy định của pháp luật quản lý thuế.
Trường hợp có thêm thu nhập ở nơi khác
Cá nhân có thêm thu nhập tại nơi khác có thể không phải quyết toán đối với phần thu nhập này nếu đồng thời đáp ứng:
- phần thu nhập bổ sung bình quân tháng trong năm không quá 15 triệu đồng; và
- phần thu nhập đó đã được tổ chức, cá nhân trả thu nhập khấu trừ thuế theo tỷ lệ 10% theo khoản 2 Điều 50 Nghị định 253/2026/NĐ-CP.
Điểm cần đặc biệt lưu ý là:
15 triệu đồng/tháng trong trường hợp này không phải mức thu nhập được miễn thuế.
Đây là một điều kiện để xác định phần thu nhập bổ sung có phải đưa vào quyết toán hay không.
6. Khi nào cá nhân được ủy quyền cho đơn vị trả thu nhập quyết toán thay?
Khoản 2 Điều 51 Nghị định 253/2026/NĐ-CP cho phép cá nhân ủy quyền cho tổ chức trả thu nhập thực hiện quyết toán thay khi đáp ứng các điều kiện luật định, kể cả trường hợp cá nhân không làm việc đủ 12 tháng trong năm.
Trường hợp phổ biến là cá nhân:
- chỉ có một nguồn thu nhập từ tiền lương, tiền công theo hợp đồng lao động từ 03 tháng trở lên tại một tổ chức; và
- thực tế đang làm việc tại tổ chức đó vào thời điểm quyết toán.
Cá nhân có nguồn thu nhập chính nêu trên và đồng thời có thêm nguồn thu nhập khác thuộc trường hợp không phải quyết toán theo điểm b khoản 1 Điều 51 cũng có thể thuộc diện được ủy quyền nếu đáp ứng đầy đủ điều kiện pháp luật.
Quy định còn điều chỉnh trường hợp người lao động được chuyển từ tổ chức cũ sang tổ chức mới do sáp nhập, hợp nhất, chia, tách, chuyển đổi loại hình doanh nghiệp hoặc giữa các đơn vị trong cùng một hệ thống.
Trường hợp đã nghỉ việc trước thời điểm quyết toán
Nếu cá nhân không còn làm việc tại tổ chức trả thu nhập tại thời điểm quyết toán thì cần kiểm tra lại điều kiện ủy quyền.
Không nên mặc nhiên cho rằng từng làm việc tại doanh nghiệp trong năm thì doanh nghiệp luôn có thể quyết toán thay.
7. Trường hợp nào cá nhân phải tự quyết toán?
Theo khoản 3 Điều 51 Nghị định 253/2026/NĐ-CP, cá nhân phải tự thực hiện quyết toán nếu trong kỳ tính thuế có đề nghị giảm thuế do các trường hợp luật định như thiên tai, dịch bệnh, hỏa hoạn, tai nạn, bệnh hiểm nghèo hoặc có phát sinh các khoản giảm trừ tại Điều 49 Nghị định này và có yêu cầu đưa các khoản đó vào tính thuế.
Điều 49 bao gồm các khoản giảm trừ đối với một số chi phí y tế, giáo dục – đào tạo đã được phân tích tại Bài 1.
Ngoài các trường hợp trên, cá nhân thuộc diện phải quyết toán nhưng không đáp ứng điều kiện ủy quyền thì thực hiện trực tiếp quyết toán với cơ quan thuế. Việc có nhiều nguồn thu nhập không tự động đồng nghĩa cá nhân bắt buộc phải tự quyết toán, bởi còn phải kiểm tra các trường hợp không phải quyết toán theo khoản 1 Điều 51 Nghị định 253/2026/NĐ-CP.
Trường hợp cá nhân lựa chọn trực tiếp quyết toán với cơ quan thuế, Điều 51 Nghị định 253/2026/NĐ-CP quy định Hệ thống thông tin quản lý thuế hỗ trợ tổng hợp các nguồn thu nhập từ tiền lương, tiền công phát sinh trong năm và số thuế đã được khấu trừ.
8. Thời hạn quyết toán thuế TNCN
Khoản 5 Điều 10 Nghị định 252/2026/NĐ-CP quy định thời hạn nộp hồ sơ khai quyết toán thuế như sau:
| Chủ thể/trường hợp | Thời hạn |
| Hồ sơ khai quyết toán thuế theo thời hạn chung | Chậm nhất ngày cuối cùng của tháng thứ 03 kể từ ngày kết thúc kỳ quyết toán |
| Cá nhân có thu nhập từ tiền lương, tiền công trực tiếp quyết toán | Chậm nhất ngày cuối cùng của tháng thứ 04 kể từ ngày kết thúc năm dương lịch |
| Cá nhân năm đầu xác định cư trú theo 12 tháng liên tục | Có thời hạn riêng tính từ thời điểm kết thúc 12 tháng liên tục |
| Cá nhân cư trú là người nước ngoài kết thúc HĐLĐ tại Việt Nam | Quyết toán trước khi xuất cảnh và trong giới hạn thời hạn luật định |
Đối với kỳ tính thuế năm 2026, việc xác định ngày hết hạn cụ thể cần căn cứ vào quy định về thời hạn và lịch ngày nghỉ tại thời điểm thực hiện.
Do đó, cách an toàn về pháp lý là xác định thời hạn theo “ngày cuối cùng của tháng thứ 03” hoặc “ngày cuối cùng của tháng thứ 04”, thay vì mặc định một ngày cố định cho mọi năm.
9. Hồ sơ và thủ tục quyết toán từ năm 2026 có điểm gì đáng lưu ý?

Từ ngày 01/07/2026, thủ tục quản lý thuế được thực hiện theo Luật Quản lý thuế số 108/2025/QH15, Nghị định 252/2026/NĐ-CP và Thông tư 89/2026/TT-BTC.
Thông tư 89/2026/TT-BTC có một số thay đổi đáng chú ý theo hướng giảm hồ sơ giấy và tăng sử dụng dữ liệu điện tử.
Không phải cung cấp lại dữ liệu cơ quan thuế đã có
Theo hướng dẫn của Cục Thuế về Thông tư 89/2026/TT-BTC, người nộp thuế không phải nộp lại các chứng từ, tài liệu đã có trong hồ sơ thuế và không phải khai lại các thông tin mà Hệ thống thông tin quản lý thuế đã có hoặc cơ quan thuế đã khai thác được từ cơ sở dữ liệu quốc gia và các hệ thống liên thông.
Trường hợp hệ thống đã có đủ thông tin, chứng từ và dữ liệu làm căn cứ tính thuế, hệ thống có thể tự động tạo lập tờ khai để hỗ trợ người nộp thuế thực hiện khai thuế và tính thuế.
Thay đổi thành phần hồ sơ đối với cá nhân
Thông tư 89/2026/TT-BTC đã bãi bỏ thành phần hồ sơ đăng ký người phụ thuộc trong hồ sơ quyết toán thuế TNCN của cá nhân và bổ sung hồ sơ liên quan đến các khoản chi y tế, giáo dục – đào tạo trong trường hợp người nộp thuế yêu cầu áp dụng các khoản giảm trừ này.
Việc khai và nộp hồ sơ ngày càng được thực hiện dựa trên dữ liệu điện tử và kết nối giữa người nộp thuế với Hệ thống thông tin quản lý thuế.
10. Giao dịch thuế điện tử và số định danh cá nhân
Thông tư 89/2026/TT-BTC quy định việc sử dụng tài khoản định danh điện tử trong giao dịch với cơ quan thuế. Đối với công dân Việt Nam thuộc đối tượng được cấp tài khoản định danh điện tử, có thể sử dụng tài khoản định danh điện tử mức độ 2 để thực hiện giao dịch thuế điện tử theo quy định.
Bên cạnh đó, Thông tư 90/2026/TT-BTC về đăng ký thuế có hiệu lực từ ngày 01/07/2026.
Trường hợp cá nhân đã được cấp nhiều hơn một mã số thuế, khoản 4 Điều 37 Thông tư 90/2026/TT-BTC yêu cầu cập nhật số định danh cá nhân để cơ quan thuế tích hợp các mã số thuế và hợp nhất dữ liệu thuế của người nộp thuế.
Vì vậy, trước khi quyết toán, cá nhân nên kiểm tra sự thống nhất giữa: họ tên – ngày sinh – số định danh cá nhân – thông tin người phụ thuộc – dữ liệu thu nhập và số thuế đã khấu trừ.
Sai lệch dữ liệu có thể ảnh hưởng đến việc tổng hợp thu nhập, ghi nhận người phụ thuộc hoặc xử lý hồ sơ thuế.
11. Chậm quyết toán hoặc khai sai có thể phát sinh hậu quả gì?
Việc nộp hồ sơ quá thời hạn, khai sai dẫn đến thiếu số thuế phải nộp hoặc các hành vi vi phạm khác có thể phát sinh nghĩa vụ nộp bổ sung thuế, tiền chậm nộp và xử phạt vi phạm hành chính tùy từng trường hợp.
Khung xử phạt về thuế, hóa đơn hiện hành tiếp tục bao gồm Nghị định 125/2020/NĐ-CP và các văn bản sửa đổi, bổ sung, trong đó Nghị định 291/2026/NĐ-CP có hiệu lực từ ngày 21/07/2026.
Mức xử lý cụ thể phải căn cứ vào: hành vi vi phạm, thời điểm xảy ra, hậu quả, số thuế liên quan và các tình tiết của từng vụ việc.
Không nên áp dụng một mức tiền phạt chung cho tất cả các trường hợp chậm hoặc sai quyết toán thuế.
12. Checklist trước khi quyết toán thuế TNCN
Trước khi thực hiện quyết toán, cá nhân nên rà soát lần lượt:
- Mình có thuộc trường hợp phải quyết toán hay không;
- Có đủ điều kiện ủy quyền cho đơn vị trả thu nhập quyết toán thay hay không;
- Toàn bộ nguồn thu nhập từ tiền lương, tiền công trong năm;
- Các khoản thu nhập đã bị khấu trừ theo biểu lũy tiến hoặc khấu trừ 10%;
- Chứng từ và dữ liệu về số thuế đã khấu trừ;
- Người phụ thuộc và thời gian được tính giảm trừ;
- Các khoản giảm trừ y tế, giáo dục – đào tạo nếu có yêu cầu áp dụng;
- Thông tin số định danh cá nhân và dữ liệu đăng ký thuế;
- Số thuế còn phải nộp, nộp thừa hoặc đề nghị hoàn, bù trừ;
- Thời hạn nộp hồ sơ và nộp số thuế còn thiếu nếu có.
Việc kiểm tra đầy đủ trước khi gửi hồ sơ giúp hạn chế tình trạng thiếu nguồn thu nhập, sai thông tin người phụ thuộc hoặc phải điều chỉnh hồ sơ sau khi đã nộp.
13. Căn cứ pháp lý chính
Các văn bản pháp lý trọng tâm liên quan đến nội dung bài viết gồm:
- Luật Thuế thu nhập cá nhân số 109/2025/QH15;
- Nghị định 253/2026/NĐ-CP ngày 30/06/2026 quy định chi tiết Luật Thuế thu nhập cá nhân;
- Thông tư 87/2026/TT-BTC ngày 30/06/2026 hướng dẫn một số nội dung về thuế TNCN;
- Luật Quản lý thuế số 108/2025/QH15;
- Nghị định 252/2026/NĐ-CP quy định chi tiết thi hành Luật Quản lý thuế;
- Thông tư 89/2026/TT-BTC ngày 30/06/2026 về quản lý thuế;
- Thông tư 90/2026/TT-BTC ngày 30/06/2026 về đăng ký thuế;
- Nghị định 125/2020/NĐ-CP và các văn bản sửa đổi, bổ sung hiện hành về xử phạt vi phạm hành chính về thuế, hóa đơn, trong đó có Nghị định 291/2026/NĐ-CP.
Kết luận
Đối với thu nhập từ tiền lương, tiền công, khấu trừ thuế trong năm và quyết toán thuế cuối kỳ là hai giai đoạn khác nhau.
Cá nhân cần xác định đúng mình thuộc trường hợp: không phải quyết toán → được ủy quyền quyết toán → hoặc phải trực tiếp quyết toán với cơ quan thuế.
Đặc biệt, cần lưu ý ba mốc pháp lý thường dễ nhầm:
- 05 triệu đồng/lần là ngưỡng liên quan đến cơ chế khấu trừ 10% đối với một số khoản thu nhập không ký hợp đồng hoặc hợp đồng dưới 03 tháng;
- 15 triệu đồng/tháng bình quân trong năm là điều kiện liên quan đến trường hợp không phải quyết toán đối với một nguồn thu nhập bổ sung đã bị khấu trừ 10%;
- và ngày cuối cùng của tháng thứ 04 sau khi kết thúc năm dương lịch là thời hạn luật định đối với cá nhân trực tiếp quyết toán thuế từ tiền lương, tiền công.
Việc quyết toán đúng cần căn cứ đồng thời vào nguồn thu nhập, số thuế đã khấu trừ, các khoản giảm trừ, điều kiện ủy quyền, dữ liệu đăng ký thuế và hồ sơ thực tế của từng cá nhân.
Xem thêm bài viết của HT Legal VN: Thuế TNCN năm 2026: Mức giảm trừ 15,5 triệu đồng, biểu thuế 5 bậc và cách tính.
Lưu ý: Nội dung được xây dựng trên cơ sở pháp luật có hiệu lực tại thời điểm biên soạn và chỉ nhằm mục đích tham khảo, chia sẻ kiến thức pháp lý chung. Nội dung không phải là ý kiến tư vấn cho một vụ việc cụ thể và không tạo thành cam kết về kết quả xử lý. Việc áp dụng pháp luật cần căn cứ vào hồ sơ, chứng cứ, tình tiết thực tế và quy định có hiệu lực tại thời điểm liên quan.
HT LEGAL VN – GIẢI PHÁP ĐÚNG • HIỆU QUẢ • TÍN THÁC
HT Legal VN cung cấp dịch vụ tư vấn pháp luật, tham gia tố tụng và hỗ trợ giải quyết các vấn đề pháp lý cho cá nhân, doanh nghiệp trong nhiều lĩnh vực.
Website: www.htlegalvn.com
Hotline: 09 6161 4040
HT LEGAL VN
Đúng vai – Đúng quyền – Ứng xử đúng luật.
