VĂN BẰNG THUỘC HIỆP ĐỊNH, ĐIỀU ƯỚC QUỐC TẾ: KHI NÀO ĐƯỢC MIỄN THỰC HIỆN THỦ TỤC CÔNG NHẬN VĂN BẰNG?

Thông tư số 65/2026/TT-BGDĐT, có hiệu lực từ ngày 26/9/2026, quy định một số trường hợp văn bằng do cơ sở giáo dục nước ngoài cấp được miễn thực hiện thủ tục công nhận văn bằng. Trong đó có nhóm văn bằng thuộc phạm vi áp dụng của hiệp định, thỏa thuận công nhận lẫn nhau về văn bằng hoặc điều ước quốc tế có liên quan đến công nhận văn bằng mà Việt Nam đã ký kết hoặc gia nhập.
Quy định này mở ra một cơ chế thuận lợi đối với một số văn bằng nước ngoài.
Tuy nhiên, trong thực tế, không nên hiểu đơn giản rằng:
“Việt Nam có hiệp định với nước cấp bằng thì văn bằng đương nhiên được miễn công nhận.”
Điểm cần xác định là chính văn bằng cụ thể có thuộc phạm vi áp dụng của hiệp định hoặc điều ước quốc tế đó hay không.
Đây mới là vấn đề pháp lý trung tâm.
I. KHÔNG NÊN XÁC ĐỊNH DIỆN MIỄN CHỈ DỰA VÀO QUỐC GIA CẤP BẰNG
Một quốc gia có thể có hiệp định hoặc thỏa thuận với Việt Nam về công nhận văn bằng.
Nhưng điều đó chưa cho phép kết luận rằng mọi văn bằng được cấp tại quốc gia đó đều thuộc diện miễn thực hiện thủ tục công nhận.
Bởi phạm vi của từng điều ước có thể khác nhau.
Có văn kiện chỉ điều chỉnh một số trình độ.
Có văn kiện quy định cụ thể từng loại văn bằng.
Có văn kiện gắn việc công nhận với mục đích tiếp tục học tập.
Có văn kiện quy định về sự tương đương.
Có trường hợp phạm vi còn phụ thuộc vào việc văn bằng có phải văn bằng thuộc hệ thống giáo dục quốc gia hoặc đáp ứng đặc điểm mà chính điều ước quy định hay không.
Vì vậy, điểm xuất phát không nên là:
“Bằng này của nước nào?”
Mà phải đi tiếp:
“Điều ước nào điều chỉnh và chính loại bằng này có nằm trong phạm vi của điều ước đó hay không?”
II. MUỐN XÁC ĐỊNH DIỆN MIỄN, TRƯỚC HẾT PHẢI TÌM ĐÚNG ĐIỀU ƯỚC
Đây là bước đầu tiên nhưng rất dễ bị làm qua loa.
Không nên chỉ tra một danh sách các quốc gia rồi kết luận.
Cần xác định chính xác:
Tên hiệp định, thỏa thuận hoặc điều ước;
các bên tham gia;
ngày ký;
ngày có hiệu lực;
tình trạng hiệu lực hiện tại;
và quan trọng nhất là phạm vi vấn đề mà văn kiện đó điều chỉnh.
Sau đó mới chuyển sang chính văn bằng.
Nếu tìm sai văn kiện hoặc sử dụng một văn kiện đã hết hiệu lực mà không kiểm tra văn kiện kế tiếp thì toàn bộ phân tích phía sau có thể đi sai hướng.
III. SAU ĐÓ PHẢI XÁC ĐỊNH ĐÚNG LOẠI VĂN BẰNG

Đây thường là bước quan trọng nhất.
Một văn bằng nên được nhận diện ít nhất qua:
Tên nguyên ngữ của văn bằng;
tên học vị hoặc trình độ;
cơ quan/cơ sở cấp;
quốc gia cấp;
ngày cấp;
và nếu điều ước đặt ra tiêu chí riêng thì phải kiểm tra thêm tiêu chí đó.
Việc dịch tên văn bằng sang tiếng Việt chỉ hỗ trợ việc hiểu nội dung.
Khi đối chiếu điều ước, trong nhiều trường hợp tên nguyên ngữ và bản chất của loại văn bằng mới là thông tin quyết định.
Một tên gọi dịch chung như “bằng tiến sĩ”, “bằng thạc sĩ” hoặc “bằng đại học” có thể chưa đủ để xác định văn bằng có đúng loại được điều ước gọi tên hay không.
IV. PHẢI ĐỌC ĐÚNG ĐIỀU KHOẢN VỀ GIÁ TRỊ CỦA VĂN BẰNG
Ngay cả khi đã xác định văn bằng thuộc phạm vi điều ước, vẫn còn một câu hỏi khác:
Điều ước công nhận văn bằng đó với giá trị gì?
Không phải mọi điều khoản về công nhận văn bằng đều đồng nghĩa với “tương đương hoàn toàn với một trình độ tại Việt Nam”.
Tùy điều ước, có thể có quy định về:
- công nhận để tiếp tục học;
- công nhận tương đương;
- quyền dự tuyển;
- quyền học chương trình tiếp theo;
- hoặc giá trị phục vụ hoạt động nghề nghiệp trong phạm vi nhất định.
Do đó, phải sử dụng đúng thuật ngữ của điều ước.
Nếu điều ước chỉ quy định quyền tiếp tục học tập thì không nên tự diễn giải thành tương đương trình độ.
Nếu điều ước quy định rõ công nhận tương đương, thì cũng phải ghi nhận đúng giá trị đó.
V. VÍ DỤ MINH HỌA: CÁCH ĐỌC MỘT HIỆP ĐỊNH VỀ VĂN BẰNG

Có thể lấy Hiệp định giữa Việt Nam và Liên bang Nga ngày 15/3/2010 làm một ví dụ để thấy vì sao phải đọc trực tiếp điều ước, thay vì chỉ dựa vào tên quốc gia.
Đây chỉ là ví dụ minh họa về phương pháp xác định phạm vi điều ước, không phải nội dung phân tích riêng về văn bằng của Liên bang Nga.
Điều 1 của Hiệp định này quy định:
“Hiệp định này được áp dụng đối với các văn bằng chuẩn quốc gia về giáo dục và học vị khoa học cấp tại nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và tại Liên bang Nga.”
Sau đó, Hiệp định quy định riêng từng nhóm văn bằng.
Ví dụ Điều 5 quy định về bằng cử nhân; Điều 7 về một số văn bằng thạc sĩ, chuyên gia; còn Điều 9 gọi cụ thể loại:
“Bằng tiến sĩ (‘диплом кандидата наук’)”
và quy định loại văn bằng này được công nhận tương đương với Bằng tiến sĩ của Việt Nam.
Ví dụ này cho thấy:
Không phải chỉ vì văn bằng được cấp tại Nga mà kết luận nó thuộc Hiệp định.
Phải kiểm tra:
Có phải văn bằng thuộc phạm vi Điều 1 hay không?
Có điều khoản nào gọi đúng loại văn bằng đó hay không?
Điều khoản đó quy định giá trị gì?
Với một quốc gia khác, cách làm cũng tương tự nhưng phải đọc chính điều ước áp dụng với quốc gia đó, không lấy Hiệp định Việt – Nga làm chuẩn chung.
VI. THỜI ĐIỂM CẤP VĂN BẰNG CŨNG CÓ THỂ TRỞ THÀNH MỘT NÚT PHÁP LÝ

Một tình huống khác cần lưu ý là:
Văn bằng thuộc đúng loại mà điều ước quy định, nhưng được cấp trước ngày điều ước có hiệu lực.
Không nên tự động kết luận:
“Cấp trước thì không được áp dụng.”
Nhưng cũng không nên mặc định:
“Điều ước đang có hiệu lực nên mọi bằng cũ đều được áp dụng.”
Phải xem chính điều ước có quy định thế nào về:
hiệu lực;
phạm vi thời gian;
chuyển tiếp;
điều ước tiền nhiệm;
và các quyền hoặc quyết định công nhận đã phát sinh trước đó.
Đây là một vấn đề pháp lý riêng và cần được xem xét theo từng điều ước.
VII. TỪ 26/9/2026, VIỆC XÁC ĐỊNH “THUỘC PHẠM VI ĐIỀU ƯỚC” CÀNG QUAN TRỌNG
Khoản 4 Điều 6 Thông tư 65 gắn cơ chế miễn thực hiện thủ tục công nhận với việc văn bằng thuộc phạm vi áp dụng của hiệp định, thỏa thuận hoặc điều ước quốc tế có liên quan.
Do đó, việc xác định phạm vi điều ước không còn chỉ là một bước tham khảo.
Nó có thể quyết định người có văn bằng có phải thực hiện thủ tục công nhận theo Điều 5 hay thuộc trường hợp được miễn thực hiện thủ tục.
Nhưng ngay cả khi được miễn, Thông tư 65 vẫn quy định:
“Việc miễn thực hiện thủ tục công nhận văn bằng không bao gồm việc kiểm tra, xác minh tính hợp pháp, hợp lệ của văn bằng.”
Vì vậy, hai vấn đề phải được kiểm tra song song:
Căn cứ nào chứng minh văn bằng thuộc phạm vi điều ước?
và
Căn cứ nào chứng minh chính văn bằng đó là hợp pháp, hợp lệ?
VIII. THUỘC ĐIỀU ƯỚC KHÔNG ĐỒNG NGHĨA ĐƯƠNG NHIÊN ĐÁP ỨNG MỌI ĐIỀU KIỆN ĐỂ HỌC TẬP HOẶC HÀNH NGHỀ
Đây cũng là một điểm không nên bỏ qua.
Một điều ước có thể công nhận hoặc xác định sự tương đương của văn bằng.
Nhưng khi người có văn bằng sử dụng văn bằng để tuyển sinh, bổ nhiệm, hành nghề hoặc thực hiện một hoạt động chuyên môn cụ thể thì pháp luật chuyên ngành có thể còn đặt ra các điều kiện khác.
Ví dụ minh họa, Điều 10 Hiệp định Việt – Nga xác định việc công nhận và sự tương đương theo Hiệp định không miễn trách nhiệm đáp ứng những yêu cầu khác khi dự tuyển hoặc thực hiện hoạt động nghề nghiệp theo pháp luật của nước tiếp nhận.
Nguyên tắc xử lý thực tế vì vậy là:
Giá trị văn bằng là một vấn đề.
Điều kiện để sử dụng văn bằng cho một mục đích chuyên ngành cụ thể là vấn đề tiếp theo.
Không nên nhập hai vấn đề thành một.
IX. KINH NGHIỆM CỦA HT LEGAL VN: KHÔNG BẮT ĐẦU BẰNG “DANH SÁCH NƯỚC ĐƯỢC MIỄN”
Đối với hồ sơ dự kiến áp dụng khoản 4 Điều 6 Thông tư 65, HT Legal VN thường không bắt đầu bằng câu hỏi:
“Nước này có hiệp định với Việt Nam không?”
Mà rà theo chuỗi:
1. Văn bằng gì?
Xác định tên nguyên ngữ, trình độ, cơ quan cấp và ngày cấp.
2. Điều ước nào?
Xác định đúng văn kiện quốc tế đang có hiệu lực hoặc có liên quan.
3. Phạm vi nào?
Điều ước điều chỉnh những văn bằng nào và đặt ra tiêu chí gì?
4. Điều khoản nào?
Tìm chính điều khoản quy định loại văn bằng đang xem xét.
5. Giá trị gì?
Công nhận, tương đương, học tiếp hay quyền khác?
6. Thời điểm nào?
Có vấn đề về ngày cấp bằng, hiệu lực hoặc chuyển tiếp không?
7. Xác minh bằng gì?
Có tài liệu chính thức chứng minh tính hợp pháp, hợp lệ và đặc điểm của văn bằng hay chưa?
Sau bước này mới nên xác định:
thuộc diện miễn thực hiện thủ tục công nhận;
cần bổ sung tài liệu xác minh;
vẫn phải thực hiện thủ tục công nhận;
hoặc cần đề nghị cơ quan có thẩm quyền hướng dẫn thêm đối với điểm pháp lý chưa rõ.
Đây là phương pháp rà hồ sơ của HT Legal VN, không phải một thủ tục hành chính bổ sung do pháp luật quy định.
X. ĐỪNG TỰ KẾT LUẬN DIỆN MIỄN CHỈ TỪ MỘT DÒNG THÔNG TIN
Một hồ sơ có thể có đầy đủ:
tên quốc gia;
tên trường;
tên bằng;
và thông tin rằng Việt Nam có hiệp định với quốc gia đó.
Nhưng bốn dữ kiện này chưa chắc đã đủ.
Điều quyết định thường nằm sâu hơn:
Điều ước có thực sự bao phủ loại văn bằng đó không?
Văn bằng đáp ứng đúng đặc điểm được điều ước quy định không?
Điều ước xác định giá trị gì?
Có vấn đề thời gian hay chuyển tiếp không?
Văn bằng có khả năng xác minh không?
Nếu chưa trả lời được các câu hỏi này thì chưa nên khẳng định chắc chắn:
“Văn bằng được miễn công nhận.”

KẾT LUẬN
Từ ngày 26/9/2026, văn bằng thuộc phạm vi áp dụng của hiệp định, thỏa thuận công nhận lẫn nhau hoặc điều ước quốc tế có liên quan mà Việt Nam ký kết hoặc gia nhập có thể thuộc trường hợp được miễn thực hiện thủ tục công nhận văn bằng theo khoản 4 Điều 6 Thông tư 65/2026/TT-BGDĐT.
Nhưng để xác định một văn bằng cụ thể thuộc diện này, không nên chỉ hỏi:
“Bằng của nước nào?”
Mà cần đi theo chuỗi:
Điều ước nào → phạm vi nào → văn bằng nào → điều khoản nào → giá trị gì → thời điểm nào → xác minh bằng gì.
Có hiệp định là điểm bắt đầu của việc kiểm tra.
Không phải kết luận cuối cùng của hồ sơ.
Với những trường hợp rõ ràng, việc xác định có thể tương đối thuận lợi.
Nhưng với văn bằng cũ, tên học vị đặc thù, hệ thống giáo dục đã thay đổi hoặc có vấn đề về thời điểm áp dụng, việc đọc đúng điều ước có thể là bước quyết định phương án xử lý.
HT Legal VN – Hiệu quả ♎ Tín thác.
Bài viết cung cấp thông tin pháp lý chung. Việc xác định một văn bằng cụ thể có thuộc phạm vi điều ước quốc tế và được miễn thực hiện thủ tục công nhận hay không cần căn cứ vào chính văn kiện quốc tế có liên quan, loại văn bằng, thời điểm cấp, tình trạng hiệu lực và tài liệu xác minh của từng hồ sơ.
Căn cứ pháp lý chính: Thông tư số 65/2026/TT-BGDĐT ngày 11/8/2026, có hiệu lực từ ngày 26/9/2026; hiệp định, thỏa thuận hoặc điều ước quốc tế có liên quan đối với từng hồ sơ.
Lưu ý: Nội dung được xây dựng trên cơ sở pháp luật có hiệu lực tại thời điểm biên soạn và chỉ nhằm mục đích tham khảo, chia sẻ kiến thức pháp lý chung. Nội dung không phải là ý kiến tư vấn cho một vụ việc cụ thể và không tạo thành cam kết về kết quả xử lý. Việc áp dụng pháp luật cần căn cứ vào hồ sơ, chứng cứ, tình tiết thực tế và quy định có hiệu lực tại thời điểm liên quan.
HT LEGAL VN – GIẢI PHÁP ĐÚNG • HIỆU QUẢ • TÍN THÁC
HT Legal VN cung cấp dịch vụ tư vấn pháp luật, tham gia tố tụng và hỗ trợ giải quyết các vấn đề pháp lý cho cá nhân, doanh nghiệp trong nhiều lĩnh vực.
Website: www.htlegalvn.com
Hotline: 09 6161 4040
HT LEGAL VN
Đúng vai – Đúng quyền – Ứng xử đúng luật.
