LUẬT SƯ KỂ CHUYỆN NGHỀ: RANH GIỚI GIỮA CHIA SẺ, BẢO MẬT VÀ TRÁCH NHIỆM PHÁP LÝ

Luật sư Nguyễn Thanh Trung | HT Legal VN
Chia sẻ câu chuyện từ thực tiễn hành nghề là một cách đưa pháp luật đến gần đời sống. Nhưng luật sư có thể kể đến đâu, phải giữ lại những gì và chịu trách nhiệm thế nào khi câu chuyện được đưa ra công chúng?
Trong quá trình hành nghề, luật sư tiếp xúc với nhiều tình huống về pháp luật và con người. Có chuyện đến từ hồ sơ trực tiếp giải quyết, có chuyện được chứng kiến, trao đổi với đồng nghiệp, tiếp nhận từ cộng đồng hoặc rút ra qua việc nghiên cứu bản án, báo chí và những thông tin đã công khai. Không ít bài học được hình thành từ nhiều trải nghiệm, chứ không gắn với một khách hàng hay một vụ việc duy nhất.
Theo tôi, nếu chỉ đặt câu hỏi “luật sư có nên kể chuyện khách hàng lên mạng xã hội hay không”, chúng ta dễ thu hẹp vấn đề. Câu hỏi đầy đủ hơn là: luật sư chia sẻ thông tin có cơ sở đến đâu, được phép công bố đến đâu, bảo mật những gì và lường trước những tác động nào?
1. Kể chuyện nghề không đồng nghĩa với công bố thông tin khách hàng
Một luật sư có thể phân tích sai lầm phổ biến trong hợp đồng vay, cách nhận diện rủi ro khi ký giáp ranh đất hoặc bài học về chứng cứ mà không cần kể một hồ sơ cụ thể. Câu chuyện cũng có thể được tổng hợp từ những điều đã nghe, đã thấy, đã nghiên cứu và trải nghiệm, với điều kiện người viết nói rõ tính chất của thông tin, có căn cứ sử dụng phù hợp và không tiết lộ thông tin thuộc nghĩa vụ bảo mật.
Ở đây cần phân biệt ba loại nội dung: vụ việc có thật mà người kể trực tiếp tham gia; vụ việc có thật được biết từ nguồn khác; và tình huống giả định hoặc tổng hợp nhằm minh họa kiến thức pháp luật. Sự khác biệt này ảnh hưởng đến cách kiểm chứng, cách dẫn nguồn và nghĩa vụ phải tuân thủ. Không nên biến tình huống giả định thành “thành tích có thật”, cũng không nên ngầm nhận mình đã giải quyết một vụ việc chỉ vì có khả năng kể lại câu chuyện ấy.
Ngược lại, không nêu tên khách hàng chưa phải là đủ. Thời gian, địa điểm, nghề nghiệp, quan hệ gia đình, giá trị tranh chấp hoặc tình tiết rất riêng vẫn có thể khiến người liên quan bị nhận diện. Vì vậy, phải xem xét cả nội dung và khả năng nhận diện, chứ không chỉ hình thức che tên hoặc thay ảnh.
2. Giới hạn pháp lý trước hết nằm ở nghĩa vụ giữ bí mật
Khoản 1 Điều 25 Luật Luật sư quy định luật sư không được tiết lộ thông tin về vụ, việc, về khách hàng mà mình biết được trong khi hành nghề, trừ trường hợp được khách hàng đồng ý bằng văn bản hoặc pháp luật có quy định khác. Khoản 2 của điều luật này còn cấm sử dụng thông tin biết được trong khi hành nghề vào mục đích xâm phạm những lợi ích được pháp luật bảo vệ; khoản 3 đặt trách nhiệm đối với tổ chức hành nghề trong việc bảo đảm nhân viên không tiết lộ thông tin liên quan.
Quy tắc 7 Bộ Quy tắc Đạo đức và Ứng xử nghề nghiệp luật sư Việt Nam, ban hành kèm theo Quyết định số 201/QĐ-HĐLSTQ ngày 13/12/2019, tiếp tục xác lập nghĩa vụ bảo mật khi thực hiện dịch vụ pháp lý và cả sau khi đã kết thúc. Khi viện dẫn trường hợp khách hàng đồng ý cho tiết lộ thông tin, cần lưu ý yêu cầu “đồng ý bằng văn bản” tại Điều 25 Luật Luật sư. Sự đồng ý ấy cũng không thay thế quyền của người thứ ba hoặc các giới hạn pháp luật khác.
Bên cạnh quy định riêng của nghề luật sư, Điều 38 Bộ luật Dân sự năm 2015 bảo vệ đời sống riêng tư, bí mật cá nhân và bí mật gia đình. Từ ngày 01/01/2026, Luật Bảo vệ dữ liệu cá nhân số 91/2025/QH15 và Nghị định số 356/2025/NĐ-CP cũng có hiệu lực, đặt ra các yêu cầu tương ứng khi việc công bố, sử dụng thông tin thuộc hoạt động xử lý dữ liệu cá nhân. Mỗi trường hợp phải được xem xét theo loại thông tin, chủ thể liên quan, mục đích và căn cứ xử lý cụ thể; không thể mặc nhiên đánh đồng mọi nội dung đã đăng trên mạng xã hội.
Do đó, kể chuyện nghề không phải hành vi bị cấm tự thân; nhưng việc dùng câu chuyện của một khách hàng cụ thể phải được rà soát nghiêm ngặt theo phạm vi thông tin luật sư biết được trong khi hành nghề và các nghĩa vụ liên quan.
3. Bản án công khai, báo chí và bài đăng của người khác: có nguồn không có nghĩa đã đủ sự thật
Một bản án được công khai là nguồn tài liệu có giá trị pháp lý quan trọng, nhưng nội dung bản án tập trung vào những tình tiết, chứng cứ, nhận định và quyết định thuộc phạm vi xét xử. Nó không nhất thiết phản ánh toàn bộ trải nghiệm đời sống, bối cảnh và trao đổi ngoài hồ sơ. Việc phân tích phải tôn trọng giá trị pháp lý của bản án, nhất là bản án, quyết định đã có hiệu lực, đồng thời nhận thức đúng giới hạn thông tin mà văn bản thể hiện.
Một bài báo có thể chính xác trong những gì được xác minh và đăng tải, nhưng vẫn chưa cung cấp toàn bộ hồ sơ hoặc mọi góc nhìn của các bên. Một bài viết do cá nhân công khai có thể chỉ thể hiện trải nghiệm hoặc quan điểm từ một phía. Nguồn công khai vì vậy không đương nhiên là nguồn đầy đủ, càng không cho phép người bình luận suy diễn những tình tiết chưa được kiểm chứng thành kết luận về động cơ hay nhân cách của người liên quan.
Người luật sư trực tiếp tham gia có thể hiểu sâu hơn về bối cảnh nhưng không vì thế mà được kể hết. Người luật sư chỉ tiếp cận nguồn công khai có thể không vướng cùng một nghĩa vụ bảo mật nghề nghiệp đối với người trong vụ việc, nhưng vẫn phải tôn trọng sự thật, quyền riêng tư và giới hạn hiểu biết của mình. Không có căn cứ để xếp một cách kể là “đúng đạo đức hơn” chỉ vì nguồn thông tin được gắn nhãn công khai.

Theo tôi, trước khi chia sẻ cần tách bạch ba phạm vi: điều mình biết; điều có đủ cơ sở xác nhận; và điều mình được phép công bố. Ba phạm vi này có thể giao nhau nhưng không đồng nhất.
4. Đạo đức truyền thông: trung thực cả về câu chuyện lẫn vai trò người kể
Quy tắc 2 của Bộ Quy tắc Đạo đức và Ứng xử nghề nghiệp luật sư yêu cầu luật sư độc lập, trung thực, tôn trọng sự thật khách quan. Quy tắc 31.1 yêu cầu trung thực, chính xác và khách quan khi cung cấp thông tin cho báo chí, phương tiện thông tin đại chúng hoặc sử dụng mạng xã hội. Quy tắc 31.2 đặt giới hạn đối với việc cố ý phản ánh sai sự thật trong những mục đích, trường hợp được quy tắc này xác định. Quy tắc 32.1 không cho phép đưa thông tin quảng cáo không có thật hoặc gây hiểu nhầm.
Một quy định đặc biệt đáng chú ý là Quy tắc 28.1: luật sư không được phát biểu điều biết rõ là sai sự thật trên phương tiện thông tin đại chúng hoặc nơi công cộng về các vấn đề liên quan đến vụ việc mình đảm nhận hoặc không đảm nhận nhằm gây ảnh hưởng xấu đến hoạt động của cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng. Quy tắc này có phạm vi áp dụng và điều kiện cụ thể, nhưng cho thấy trách nhiệm nghề nghiệp không chỉ gắn với những vụ việc luật sư trực tiếp tham gia.
Từ đó, cần phân biệt một tình huống giả định được nói rõ là giả định với một câu chuyện hư cấu nhưng lại được giới thiệu như vụ án thật. Cũng phải phân biệt việc kể lại kinh nghiệm với việc tự nhận vai trò bào chữa, tư vấn hoặc kết quả giải quyết mà mình không thực hiện. Nếu nội dung được dùng để quảng bá, việc phóng đại thành tích hay đưa thông tin gây hiểu nhầm còn phải được xem xét dưới chuẩn mực về quảng cáo nghề luật sư.
Khi việc chia sẻ vi phạm nghĩa vụ bảo mật hoặc các giới hạn pháp luật khác, hậu quả không chỉ dừng ở uy tín nghề nghiệp. Tùy hành vi và căn cứ áp dụng, luật sư có thể chịu kỷ luật nghề nghiệp, chế tài hành chính hoặc trách nhiệm hình sự nếu đủ yếu tố cấu thành tội phạm; trách nhiệm bồi thường cũng có thể phát sinh khi đáp ứng các điều kiện luật định. Không thể mặc nhiên áp dụng cùng một hậu quả cho mọi trường hợp chia sẻ thiếu chuẩn mực.
5. Nếu luật sư không chia sẻ, liệu câu chuyện sẽ được kể đúng hơn?
Một vụ việc trong đời sống có thể xuất hiện trên mạng xã hội qua lời kể của đương sự, người thân, người chứng kiến, nhà báo hoặc người chỉ tiếp cận một phần thông tin. Sự im lặng của luật sư không làm cho những cuộc thảo luận ấy tự biến mất; cũng không bảo đảm rằng các cách kể khác sẽ chính xác hoặc công bằng hơn.
Chính vì có chuyên môn, luật sư có thể góp phần giúp cộng đồng phân biệt chứng cứ với suy đoán, hành vi với đánh giá nhân cách, trách nhiệm pháp lý với cảm xúc trước một vụ việc. Đây là giá trị xã hội của việc chia sẻ kinh nghiệm nghề nghiệp, nếu thông tin được sử dụng đúng pháp luật và có trách nhiệm.
Tuy nhiên, khả năng người khác đưa thông tin sai không trao cho luật sư quyền tiết lộ bí mật khách hàng. Giữa “kể hết” và “không nói gì” còn những lựa chọn cần thiết: giải thích nguyên tắc pháp luật, phân tích tình huống đã được khái quát hóa, nêu rõ giới hạn của tài liệu công khai, hoặc điều chỉnh nhận thức sai mà không công bố thông tin đang phải bảo mật.
6. Bốn tình huống minh họa để phân biệt đúng ranh giới

Các tình huống dưới đây là ví dụ giả định nhằm làm rõ nguyên tắc, không phản ánh một hồ sơ hoặc khách hàng cụ thể.
Tình huống 1 – Chia sẻ kinh nghiệm từ vụ việc đã tham gia.
Luật sư nêu bài học về việc thu thập chứng cứ nhưng không công bố thông tin về vụ, việc hoặc khách hàng thuộc phạm vi bảo mật. Không thể chỉ vì kinh nghiệm phát sinh từ vụ việc mình đã xử lý mà mặc nhiên kết luận việc chia sẻ là vi phạm; điều quyết định vẫn là nội dung và căn cứ công bố.
Tình huống 2 – Bình luận từ bản án công khai.
Luật sư chỉ đọc bản án rồi khẳng định một đương sự có động cơ xấu mà tài liệu không đủ cơ sở chứng minh. Nguồn ban đầu công khai không loại trừ trách nhiệm đối với những nhận định thiếu căn cứ gây ảnh hưởng đến người liên quan.
Tình huống 3 – Tình huống tổng hợp từ nhiều trải nghiệm.
Luật sư xây dựng một câu chuyện điển hình về tranh chấp thừa kế và công khai đây là ví dụ minh họa. Cách làm này có thể hữu ích trong phổ biến pháp luật, với điều kiện không ghép những chi tiết khiến người trong các vụ việc gốc bị nhận diện hoặc lộ thông tin bảo mật.
Tình huống 4 – Tự nhận thành tích không có thật.
Người đăng kể một vụ án, tự giới thiệu là mình đã trực tiếp bào chữa hoặc đạt kết quả nhất định dù thực tế không tham gia. Vấn đề khi đó liên quan đến tính xác thực, chuẩn mực truyền thông và, nếu dùng để quảng cáo, cả nguy cơ quảng cáo gây hiểu nhầm.
7. Năm câu hỏi trước khi đăng một câu chuyện pháp lý
1. Nguồn gốc:
Đây là vụ việc trực tiếp tham gia, điều chứng kiến, chuyện nghe kể, tài liệu công khai hay tình huống giả định? Đã nêu rõ bản chất nguồn chưa?
2. Cơ sở xác thực:
Đâu là tình tiết đã kiểm chứng, đâu là lời kể, suy đoán hoặc quan điểm pháp lý? Có đang trình bày giả thiết như một sự thật chắc chắn không?
3. Quyền công bố:
Có thông tin về vụ việc, khách hàng, người thứ ba hoặc dữ liệu cá nhân thuộc diện phải bảo vệ không? Nếu dựa vào sự đồng ý, đã đáp ứng đúng điều kiện pháp luật và phạm vi đồng ý chưa?
4. Tác động:
Người liên quan có thể bị nhận diện không? Việc đăng tải có thể tác động đến danh dự, đời sống riêng tư, quyền lợi của họ hoặc việc giải quyết vụ việc đang diễn ra không?
5. Giá trị chia sẻ:
Chi tiết đưa ra có cần thiết để làm rõ bài học pháp lý không, hay chỉ làm câu chuyện hấp dẫn hơn mà không phục vụ mục đích chuyên môn?
8. Kết luận: không ngừng kể chuyện nghề, nhưng phải biết giới hạn
Theo quan điểm của tôi, không nên coi việc luật sư chia sẻ câu chuyện thực tiễn là hành vi đáng ngại tự thân; cũng không nên xem bản án công khai, một bài báo hay nội dung do người khác đăng tải là sự bảo đảm tuyệt đối về tính đầy đủ và chính xác.
Chia sẻ kinh nghiệm hành nghề có thể đem lại giá trị cho cộng đồng. Nhưng luật sư phải trung thực về nguồn gốc câu chuyện, hiểu giới hạn hiểu biết của mình, tuân thủ nghĩa vụ bảo mật thông tin và danh tính cần được bảo vệ, đồng thời cân nhắc những tác động có thể phát sinh từ việc công bố. Trách nhiệm ấy không mất đi chỉ vì câu chuyện không thuộc vụ việc mình đảm nhận.
Biết một câu chuyện không có nghĩa là được kể hết. Đọc một câu chuyện công khai cũng không có nghĩa là đã biết hết sự thật. Vấn đề không phải luật sư có được kể chuyện nghề hay không, mà là kể điều gì, kể đến đâu, trên cơ sở nào và chịu trách nhiệm thế nào về điều mình kể.
Luật sư Nguyễn Thanh Trung
HT Legal VN – Giải pháp đúng – Hiệu quả – Tín thác.
Căn cứ pháp lý và tài liệu tham khảo
1. Luật Luật sư số 65/2006/QH11 (được sửa đổi, bổ sung), Điều 25;
2. Bộ Quy tắc Đạo đức và Ứng xử nghề nghiệp luật sư Việt Nam, ban hành kèm Quyết định 201/QĐ-HĐLSTQ ngày 13/12/2019, Quy tắc 2, 7, 28.1, 31, 32.1;
3. Bộ luật Dân sự số 91/2015/QH13, Điều 38;
4. Luật Bảo vệ dữ liệu cá nhân số 91/2025/QH15 (hiệu lực 01/01/2026);
5. Nghị định số 356/2025/NĐ-CP (hiệu lực 01/01/2026).
Lưu ý: Nội dung được xây dựng trên cơ sở pháp luật có hiệu lực tại thời điểm biên soạn và chỉ nhằm mục đích tham khảo, chia sẻ kiến thức pháp lý chung. Nội dung không phải là ý kiến tư vấn cho một vụ việc cụ thể và không tạo thành cam kết về kết quả xử lý. Việc áp dụng pháp luật cần căn cứ vào hồ sơ, chứng cứ, tình tiết thực tế và quy định có hiệu lực tại thời điểm liên quan.
HT LEGAL VN – GIẢI PHÁP ĐÚNG • HIỆU QUẢ • TÍN THÁC
HT Legal VN cung cấp dịch vụ tư vấn pháp luật, tham gia tố tụng và hỗ trợ giải quyết các vấn đề pháp lý cho cá nhân, doanh nghiệp trong nhiều lĩnh vực.
Website: www.htlegalvn.com
Hotline: 09 6161 4040
HT LEGAL VN
Đúng vai – Đúng quyền – Ứng xử đúng luật.
